Tế Công còn được biết đến dưới cái tên đầy dân giã “Tế Điên hòa thượng”. Ông là một tăng nhân tu hành dưới thời Tống, dù có tính cách lập dị nổi tiếng nhưng hay ra tay cứu khốn phò nguy, tương trợ kẻ yếu. Xung quanh Tế Điên có rất nhiều câu chuyện khiến hậu thế thích thú, lắm khi dở khóc dở cười.
Tương truyền ông vốn họ Lý, tên là Tu Duyên, người
Thiên Thai đời Tống, xuống tóc xuất gia ở chùa Linh Ẩn Tây Hồ Hàng Châu, pháp
hiệu “Đạo Tế”. Do ông thường giả điên giả ngây, lấy điên điên rồ rồ để độ hóa
thế nhân nên người đời hay gọi là “Tế Điên”. Nhưng dù có là điên thật hay không
thì theo truyền thuyết ông có đầy thần thông, Phật pháp vô biên, lại rất từ bi,
luôn cứu giúp người gặp khó khăn, nguy hiểm, nên có biệt hiệu “Phật sống Tế
Công”. Có thể tìm hiểu thêm Tế Công tại http://chanhkien.org.
Cha Tế Công tên gọi Lý Mậu Xuân, mẹ ông là Vương Thị,
hai ông bà khi tuổi ngoài 30 nhưng vẫn chưa có con trai tế tự, thế là ngày đêm
cầu Thần khấn Phật. Một đêm, Vương Thị mơ thấy một vị La Hán tặng cho một đóa
sen ngũ sắc, Vương Thị nhận bông sen rồi nuốt, không lâu sau có mang.
Ngày 2 tháng 2 năm Thiệu Hưng thứ 3 đời Nam Tống
(năm 1133), quả nhiên bà hạ sinh một bé trai. Hai ông bà có con trai thì vô
cùng mừng rỡ, khi đầy tháng làm cỗ linh đình đãi khách. Lúc đó có một cao tăng
là Tính Không đến chúc mừng, ban cho đứa trẻ cái tên là “Tu Duyên”. Tương truyền,
Tế Công giáng trần là có nguyên do. Con chim Đại Bằng ở trước tòa của Phật tổ
Như Lai đã vi phạm thiên quy, bỏ trốn xuống trần. Do đó Hàng Long La Hán (Tế
Công) xuống trần chuyển thế, đi tìm tung tích con chim Đại Bằng đó. Nhưng Tế
Công ở cõi trần gian cũng trải qua muôn vàn kiếp nạn. Nhưng sau khi trải qua
muôn vàn gian khổ, cuối cùng ông cũng đã hoàn thành sứ mệnh của mình.
(La Hán hàng Long. Tranh minh họa dẫn theo
sachxua.net)
Tế Điên vốn sống ở núi Thiên Thai. Tương truyền, khi
ông 18 tuổi thì cả cha mẹ đều mất. Sau khi chịu tang 3 năm, Tế Công liền đến
chùa Linh Ẩn ở Tây Hồ, Hàng Châu cách đó 300 km để xuống tóc đi tu. Chủ trì Viễn
Hạt Đường biết ông là La Hán chuyển thế, lập tức thu nhận ông làm đệ tử và đặt
cho pháp hiệu là “Đạo Tế”. Sau khi Viễn Hạt Đường quy tiên, Tế Công chuyển đến
chùa Tịnh Từ Tự ở núi.
Nam Bình Sơn. Ngày 16 tháng 5 năm Khai Hy thứ 2 đời
Nam Tống (năm 1206), Tế Công ngồi đả tọa ngay ngắn viên tịch, để lại một bài kệ
:
Lục thập niên lai lang tạ
Đông bích đả đảo tây bích
Ư kim thu thập quy lai
Y cựu thiên thanh hủy bích
Tạm dịch:
Ngổn ngang bề bộn sáu mươi năm
Tường đông lớn mạnh đổ tường tây
Nay thu xếp ổn về nơi cũ
Trời xanh nước biếc vẫn như xưa
Sau khi Tế Công chết, an táng ở bên suối Hổ Bào Tuyền,
núi Đại Từ Sơn phía tây Hàng Châu, nơi đó được xây dựng Tháp viện Tế Công có 2
tầng lầu.
Trong truyền thuyết dân gian, Tế Công là một nhân vật
mang nhiều sắc thái thần kỳ. Tương truyền ông từng đấu trí với Tần Thừa tướng,
trừng trị tham quan ô lại, trên đường thấy chuyện bất bình, liền rút đao tương
trợ. Tế Công cũng được mô tả như là một tăng nhân lập dị, thích ăn thịt chó, uống
rượu. Hành vi của ông thường được miêu tả dưới bút pháp trào phúng, cười đùa giận
dữ mắng chửi, lấy hài hước làm vui. Những sự tích này đều được dân gian lưu
truyền, mô tả tỉ mỉ lại trong “Tế Công truyện”.
Khi bị người khác chất vấn vì sao làm hòa thượng rồi
còn vẫn ham rượu thịt, Tế Công thủng thẳng đọc mấy câu thơ này:
Cổ thi Phật Tổ để một phong
Dạy khuyên tu miệng lẫn tu lòng
Người nay tu miệng, lòng không sửa
Bần tăng lòng sửa, miệng thì không
Tượng Tế Công ở chùa Tây Viên Tự, Tô Châu Trung Quốc
rất đặc biệt, thân mặc áo rách, tay cầm quạt nát, nhưng biểu cảm trên khuôn mặt
thì rất sinh động thú vị, từ 3 góc độ nhìn thì lại có diện mạo khác nhau. Một
góc độ là khuôn mặt tươi cười rực rỡ, gọi là “Xuân phong mãn diện” (Mặt đầy gió
xuân), một góc độ lại là gương mặt đầy ưu sầu, gọi là “Sầu mi khổ liễn” (Mặt khổ
mi sầu).
Góc độ cuối là tổng hợp của hai điều trên, dường như
có chút cảm giác là “nửa khóc nửa cười” hoặc là “muốn khóc không được muốn cười
không xong”. Kỹ thuật điêu khắc cao siêu này, cũng rất phù hợp với thái độ của
Tế Công chuyện đời ta làm kiểu ta, mặc người cười mắng.
Từ khóa: Te Cong. Có thể tìm hiểu thêm Te Cong tại
http://chanhkien.org
